Việc thuê và đầu tư sẽ mang lại sự khác biệt khoảng 2.036 sau 10 năm.
Hàng năm
| Năm | Mua: giá trị căn nhà + tiền tiết kiệm | Tiền thuê: tiết kiệm |
|---|---|---|
| 1 | 55.777 | 81.012 |
| 2 | 70.052 | 93.383 |
| 3 | 84.843 | 106.125 |
| 4 | 100.171 | 119.247 |
| 5 | 116.056 | 132.761 |
| 6 | 132.519 | 146.680 |
| 7 | 149.582 | 161.014 |
| 8 | 167.268 | 175.777 |
| 9 | 185.600 | 190.982 |
| 10 | 204.604 | 206.640 |
Cách so sánh hoạt động
Cả hai lựa chọn đều chi tiêu như nhau. Người mua trả tiền đặt cọc và chi phí mua hàng; thay vào đó người thuê nhà sẽ đầu tư số tiền đó. Hàng tháng, ai trả ít hơn sẽ đầu tư số tiền chênh lệch. Cuối cùng, người mua bán nhà và trả chi phí bán nhà cũng như số tiền còn lại của khoản vay.
Kết quả cuối cùng là những gì mỗi người trong số họ sẽ có. Chi phí sở hữu bao gồm tiền thế chấp, thuế tài sản, sửa chữa và phí; tiền thuê nhà tăng lên hàng năm.
Lời khuyên gì cho sự cân bằng
- Thời gian: chi phí mua bán chiếm vài phần trăm giá nên thời gian lưu trú ngắn ngày thường ưu tiên thuê.
- Tỷ lệ giá trên tiền thuê: khi một năm tiền thuê chiếm một phần nhỏ trong giá, việc thuê có xu hướng thắng.
- Lãi suất và lợi nhuận: lãi suất thế chấp cao có lợi cho việc thuê nhà, lợi tức tiết kiệm thấp sẽ có lợi cho việc mua nhà.
- Những gì tiền không thể đo lường được: sự ổn định, quyền tự do di chuyển, quyền cải tạo.
Không phải lời khuyên tài chính. Đây là minh họa dựa trên giả định của riêng bạn, không phải lời khuyên tài chính. Giá thực, tiền thuê, lãi suất và lợi nhuận thay đổi và có thể thấp hơn mức giả định; thuế và phí phụ thuộc vào quốc gia của bạn. Để có quyết định, hãy nói chuyện với một cố vấn được cấp phép.